Du hoc Nhat Ban

Các lễ hội trong năm ở Nhật Bản

Văn hóa Nhật Bản: Mặc dầu là nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, nhưng những lễ hội hàng năm của Nhật Bản vẫn còn như nguyên vẹn. Mỗi mùa đều có những lễ hội khác nhau, mang đậm bản sắc văn hóa và tín ngưỡng của mỗi vùng. Tham gia vào những lễ hội này chúng ta sẽ có dịp hiểu thêm về lịch sử, văn hóa và con người tại đây, cũng như thêm yêu mến đất nước hoa anh đào.



"Hatsumode" là dịp đầu tiên đến đền chùa để cầu nguyện cho sức khỏe, cũng như mong ước những điều may mắn sẽ đến trong năm mới. Những đền chùa nổi tiếng đều chật ních người trong buổi "hatsumode" này, cũng như trong những ngày đầu tiên của năm. Bạn còncó thể rút quẻ để nghiệm thử xem năm nay vận may, sức khỏe, tiền tài, tình yêu…của mình ra sao, nhưng tất cả đều viết bằng tiếng Nhật. Tuy nhiên, nhiều người Nhật cho rằng họ đến đền chùa theo tập tục và truyền thống, hơn là lý do tín ngưỡng. Thường ai cũng ném một đồng xu vào trong một cái thùng đặt giữa cửa của ngôi đền chính tên là "saisenbako", vỗ tay, và thầm cầu ước.

Ngày 3 tháng 2 hàng năm là lễ "setsubun", nghĩa là ngày kết thúc mùa đông lạnh giá, tính theo lịch âm. Người Nhật thường mua đậu tương rang và vãi quanh nhà để xua đuổi ma quỷ và đọc "oni wa soko, fuku wa uchi" (tạm dịch: Điều không may thì ra ngoài, hạnh phúc thì vào trong nhà".

Tiếp theo phải nói đến là mùa hoa anh đào. Hoa nở chạy dọc từ Okinawa bắt đầu từ cuối tháng 2 cho đến Hokkaido là vào đầu tháng 6, tuy nhiên hoa nở rộ ở nhiều nơi nhất là vào tháng 3-4 hàng năm. Lễ hội Hanami "ngắm hoa" được tổ chức vào dịp này. Bạn có thể thưởng thức một ly rượu sake và ngắm những bông hoa anh đào tuyệt đẹp, với những cánh hoa lơi lả bay trong làn gió còn lành lạnh của đầu xuân. Các công ty, cũng như bạn bè thân, gia đình, thường tổ chức đi ngắm hoa vào dịp này.

Trước khi mùa hè bắt đầu, những lễ hội được tổ chức ven sông được gọi là "kawabiraki", và thường bắn pháo hoa "hanabi-taikai". Người Nhật thường mặc áo kimono mùa hè "yukata" khi tham gia lễ hội.
Ngày 7/7 hàng năm có lễ hội "tanabata", hay lễ hội vợ chồng chàng Ngâu. Trẻ em Nhật tin rằng những điều ước của mình sẽ trở thành hiện thực nếu viết những lời ước trên những tờ giấy sặc sỡ "tanzaku" và treo lên những cành tre trong dịp này.
Trên đây là một số lễ hội tiêu biểu cho nhiều vùng tại đất nước mặt trời mọc, tuy nhiên có hàng nghìn lễ hội khác nhau được tổ chức hàng năm, tùy theo phong tục truyền thống của mỗi địa phương, mà bạn có thể thấy ở ngay gần nơi mình đang sống và làm việc. Ví dụ có những lễ hội nhảy múa "bon-odori", mà bạn có thể tham gia cùng với mọi người nhảy trong một vòng tròn, nhịp nhàng với điệu nhạc dân ca "min-yo".

Có một số lễ hội có cả hàng ngàn người tham gia và diễu hành. Một số lễ hội thì mang tính hiện đại, có dàn nhạc, mô tô hộ tống, với những cô gái xinh đẹp nhảy múa. Tuy nhiên, một số lễ hội mang tính truyền thống, và người tham gia đều mặc các bộ lễ phục có từ xưa. Một trong những lễ hội kiểu này là lễ hội khiêng kiệu "mikoshi".

Lễ hội "tori-no-ichi" được tổ chức vào tháng 11 tại các ngôi đền. Bạn có thể mua một thứ mang lại điều may mắn như "kumade" (hay cái cào), hoặc "otafuku" (một mặt nạ phụ nữ đang cười). Vào dịp cuối năm, truyền thống làm bánh nếp "mochizuki" được tổ chức tại nhiều nơi công cộng, đền chùa, vườn trẻ, hoặc tại nhà. Đôi khi có tai nạn xảy ra với người già, khi nuốt bánh nếp và gây tắc thở, mà báo chí năm nào cũng đưa tin vài vụ. Trong đêm giao thừa "omisoka", những hồi chuông gióng giả sẽ được ngân lên khi năm mới đến. Kiểu gióng chuông này được gọi là "joya no kane", nếu may mắn, bạn sẽ được phép gióng chuông tại chùa trong dịp này.

Cách đưa - nhận card visit của người Nhật Bản

Ngày nay, Name Card đã trở nên quen thuộc của các doanh nhân, Doanh nghiệp. Name Card luôn mở đầu các cuộc giới thiệu, giao dịch kinh doanh. Tuy nhiên, tại mỗi nơi, văn hoá sử dụng Name card lại có những cách thức khác nhau. Và có lẽ không nơi nào tấm Name card lại được coi trọng như tại Nhật Bản.


Các doanh nhân Nhật Bản luôn được mệnh danh là những người rất tiết kiệm, tính toán trong chi tiêu nhưng lại rất hào phóng khi sử dụng Name card của mình. Theo một thống kê mới nhất của tờ Nihon Kaizai Nhật Bản, trung bình tại Nhật Bản một doanh nhân sử dụng khoảng 20 tấm Name card /ngày, đồng thời người Nhật Bản trao tay nhau khoảng 45 triệu Name card /ngày. Những con số trên chứng tỏ Nhật Bản là một trong những quốc gia sử dụng nhiều danh thiếp nhất thế giới trong kinh doanh.

Hiện nay, rất nhiều công ty, nhiều doanh nhân muốn hợp tác làm ăn với doanh nhân Nhật Bản. Nhưng đa phần trong số họ không hiểu hết văn hoá danh thiếp của Nhật Bản, dẫn đến tình trạng đôi khi làm mất lòng các đối tác Nhật Bản.

1/ Người Nhật chú ý đến “chế độ đẳng cấp” khi trao đổi name card

Nền kinh tế Nhật Bản cũng như người dân Nhật Bản rất nhạy cảm về chế độ đẳng cấp. Trước mỗi cuộc giao dịch kinh doanh, khi trao đổi name card, người Nhật phải xác định được hàm và chức vị cao nhất của đối tác. Điều này là rất quan trọng khi áp dụng lễ nghi, quyết định sự thành bại trong giao tiếp hay trong các cuộc giao dịch kinh doanh. Các đàm phán thảo luận sẽ cởi mở hơn nếu địa vị ngang hàng thì hai người giao dịch bình đẳng, dễ ăn dễ nói.

2/ Người Nhật có biểu hiện rõ rệt trên nét mặt khi trao đổi name card

Đây là cơ sở để các doanh nhân nước ngoài nắm bắt được chức vị hay vị trí của doanh nhân Nhật Bản. Điều đáng chú ý là động tác và biểu hiện trên nét mặt khi trao đổi name card cũng có thể đoán ra chức vị cao thấp của đôi bên. Thông thường, động tác khom lưng nhiều, nét mặt khiêm tốn, chân thành thì chức vụ của người trao danh thiếp thấp. Khom lưng càng ít, vẻ mặt tự tin lớn thì chức cụ càng cao.

3/ Đừng tùy tiện sử dụng name card khi làm ăn với người Nhật

Doanh nhân Nhật không có thói quen tuỳ tiện trao đổi name card. Trong các trường hợp giao dịch kinh doanh, đàm phán hợp đồng thì nếu một người có địa vị thấp nếu không được người khác dẫn dắt hoặc không vì lý do đặc biệt cần thiết thì không đủ tư cách trao đổi name card với người có địa vị cao hơn. Vấn đề này xuất phát từ truyền thống văn hoá “đẳng cấp” của người Nhật Bản. Trong kinh doanh, khi bạn muốn hẹn đàm phán giao dịch với một đối tác Nhật Bản thì bạn nên dựa vào chức vụ của mình để hẹn đúng người có chức vụ tương xứng với bạn. Còn nếu bạn muốn hẹn một người có chức vụ cao hơn thì tốt nhất là nên có uỷ quyền của cấp trên tương xứng.

4/ Gọi tên chính xác đối tác Nhật Bản được ghi trong name card

Xuất phát từ truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời của mình, người Nhật dựa vào name card để gọi chính xác và đúng tên người giao dịch bởi vì họ tên người Nhật rất phức tạp. Có thể nói, Nhật Bản là nước có nhiều họ nhất trên thế giới, có đến 370.000 họ trong khi tiếng Nhật chỉ có 50 âm cơ bản, khiến khi nói chuyện dễ gặp các từ đồng âm khác nghĩa. Ví dụ: Sasaki có thể đại diện cho 9 họ; Goto đại diện cho 11 họ; Koji đại diện 12 họ,…

5/ Người Nhật sử dụng tấm name card trang nhã, lịch sự

Người Nhật còn có thói quen name card một cách trang nhã, dễ đọc theo một quy tắc nhất định. Chức vụ thường được in đậm nổi bật nhất, thường chỉ ghi chức vụ cao nhất để khỏi làm nhiễu trí nhớ của người muốn giao dịch. Nếu name card của bạn có sự khác biệt về hình thức với người Nhật Bản thì tốt nhất nếu có quyết định làm ăn với người Nhật thì bạn nên chuẩn bị cho mình một hộp danh thiếp lịch sự, gây ấn tượng với người Nhật, điều này là rất quan trọng trong việc lấy cảm tình đầu tiên của người Nhật.

Người Nhật họ hiền hay quá lạnh lùng?

Khi bạn có cơ hội đến Nhật du học thì thứ mà bạn tiếp xúc nhiều nhất hẳn phải là người Nhật rồi. Vậy tính dân tộc của người Nhật như thế nào?Những điều chúng tôi giới thiệu có thể chỉ là cái nhìn còn hạn hẹp và mang tính cá nhân, không phải là người Nhật ai cũng nghĩ giống nhau như vậy nên mong các bạn lưu ý điều này.



Phần nhiều sinh viên đến Nhật du học đều trải nghiệm giao thông bằng tàu điện. Ở Nhật, chi phí bảo dưỡng bãi đỗ xe, trạm đổ xăng rất cao nên không chỉ du học sinh mà hầu hết người dân Nhật đều sử dụng tàu điện. Lên tàu, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên về sự yên lặng. Trên tàu điện, đa số mọi người hoặc cầm điện thoại di động, hoặc đọc sách, hoặc ngủ, người nói chuyện rất ít. Đó là bởi “sự lễ độ” trong tính cách của người Nhật. Vì vậy, trên tàu điện hay ở những nơi công cộng, người Nhật thường không gây ồn ào. (Dĩ nhiên, có sự khác biệt tùy từng người)

Ví dụ bạn để quên ví trên tàu điện hoặc xe taxi, khi ấy thông thường thì rất nhiều người coi như mất rồi, không thể tìm lại nữa nhưng ở Nhật, một vài ngày sau rất nhiều khả năng bạn tìm lại được đồ đánh mất vì nhiều người Nhật không lấy đồ mà tốt bụng đem đồ tới trả lại cho nhà ga chẳng hạn. Tôi đã từng 2 lần để quên ví, 1 lần để quên iPhone trên tàu điện nhưng đều tìm lại được. Người Nhật khi ở trên tàu điện mà nhìn thấy người rơi ví thì thường không có ý nghĩ “Cơ hội tốt quá! Lấy luôn thôi!” mà nghĩ “Ôi, người này quên ví mất rồi. Thật không may quá, đem trả giúp người ấy thôi”.

Tuy vậy, tính dân tộc của người Nhật không chỉ là các điểm tốt. Nhật Bản là quốc đảo nên dù có lịch sử lâu đời vẫn khó tiếp nhận những ảnh hưởng từ các nước khác. Kết quả là có thể đối người nước ngoài sẽ có ấn tượng về sự lạnh lùng, về một đất nước Nhật không cởi mở. Ở các khu du lịch, không có mời mọc đeo bám lẵng nhẵng mà thay vào đó thậm chí có thể có ấn tượng về sự lạnh lùng của người Nhật. Tuy nhiên, không phải là lạnh lùng mà nói đúng hơn là người Nhật hay ngại ngùng, xấu hổ.

Nếu là người đi du lịch Nhật Bản trong thời gian ngắn thì có xu hướng nhận xét về người Nhật theo quan điểm cá nhân thông qua những tiếp xúc trong chuyến đi. Nếu gặp người tốt thì nghĩ “Người Nhật thật tốt bụng, dễ tính”, gặp người xấu lại nghĩ “Người Nhật quả là chẳng tốt chút nào”. Nhưng, các bạn, những người theo dõi chủ đề này là những người có dự định du học lâu dài ở Nhật. Trong thời gian ấy sẽ gặp rất nhiều người Nhật, có người tốt, có người xấu. Qua những sự tiếp xúc gặp gỡ như thế có thể thấy được những những điểm hay, điểm dở của người Nhật, hoặc thậm chí là phát hiện ra những điểm mới về chính đất nước của mình. Chúng tôi đã rất nhiều lần lặp đi lặp lại rồi, nhưng tính dân tộc như đã trình bày ở trên tùy từng người mà khác nhau, chỉ là ý kiến nhận xét mang tính cá nhân, xin các bạn đừng quên.

Một số nhà thờ công giáo cho người Việt tại Nhật Bản

Hàng năm, có rất nhiều người Việt đi Nhật Bản để học tập, làm việc, sinh sống và công tác. Trong số đó, có rất nhiều bạn theo công giáo, dù đang sinh sống ở nước bạn những vẫn muốn giành thời gian riêng cho hoạt động đi lễ. Dưới đây, mình muốn giới thiệu một số nhà thờ công giáo ở Nhật Bản đến các bạn:


1. Những điều cần lưu ý về Thánh lễ

a. Về nghi thức: gần như hoàn toàn trùng khớp với thánh lễ tại Việt Nam. Tức là các bạn có thể không cần biết tiếng Nhật. Cũng vẫn có thể tham dự thánh lễ tiếng Nhật và hiểu đại khái những nghi thức Chủ tế thực hiện nếu đã nắm rõ trong tháng lễ tiếng Việt.

b. Về nghi thức thánh lễ bằng tiếng Nhật: các bạn tham khảo file nghi thức thánh lễ (ミサの次第) ở đây.

c. Một số lưu ý khi tham dự thánh lễ cửa người Nhật:

* Khi bước vào cung thánh sẽ có 2 việc phải làm là: (1) lấy tờ giấy bài đọc và Phúc âm (聖書と典礼) của ngày lễ hôm đó, lấy sách thánh ca thường dùng (典礼聖歌) hoặc thánh ca công giáo (カトリック聖歌集) (2) sẽ có hai chiếc hộp đựng mình thánh ở đáy ghế sau cùng, hãy dùng chiếc bay nhỏ, được đặt sẵn trong một hộp bỏ 1 phần mình thánh qua hộp kia rồi bỏ chiếc bay lại hộp ban đầu để người tới tiếp theo thực hiện. (Mục đích của hành động này là để số mình thánh chuẩn bị cho thánh lễ hôm ấy vừa vặn với số người tham dự.)

* Các bài hát được hát trong thánh lễ sẽ được ghi theo thứ tự từ nhập lễ đến kết lễ trên một chiếc bảng lớn (đặt bên phải hoặc bên trái) cung thánh, bạn có thể theo đó mà giở quyển thánh ca cho phù hợp.

* Câu đáp bài đọc, alleluia, đáp lời nguyện giáo dân cũng được ghi trong tờ bài đọc và Phúc Âm.

* Sau bí tích thánh thể, anh chị em ban phúc lành cho nhau, cũng như là sau khi rước mình thánh thì ở Việt Nam đa phần mọi người sẽ đứng một chút để cầu nguyện, nhưng bên Nhật họ thường ngồi xuống ngay. Do đó nếu các bạn nào, không thích việc mình (có thể) bị hỏi là người nước ngoài hay đại loại thì hãy ghi nhớ điều này.

* Tuyệt đối giữ trật tự và theo đúng thứ tự ghế của mình khi xếp hàng lên rước mình thánh. (Về có bản dù thánh lễ đông hay ít cũng chỉ có 2 hàng lên rước của 2 bên trái phải nên các bạn chịu khó chờ một chút)

* Trước khi kết lễ họ sẽ đọc kinh cầu cho các nạn nhân thiên tai sóng thần hạt nhân năm 2011, tờ kinh này được kẹp ở trang Bìa của quyển thánh ca thường dùng.

* Cuối cùng, do tính cách người Nhật rất trầm và có xu hương khép mình, đặc biệt là cộng đồng người công giáo vốn ít ỏi (khoảng 600.000 tín đồ, không bằng 1/10 Việt Nam và chiếm chưa tới, 0.5% dân số Nhật) nên công tác truyền giáo hầu như không tiến triển. Số người đi lễ CN mỗi tuần gần như cố định, và nếu bạn đi nhiều, bạn sẽ thấy không ít gương mặt quen thuộc, luôn ngồi vào một vị trí nhất định. Do đó, nếu có thể khi có dự tính tham dự vào một cộng đồng nào trong thời gian tương đối dài thì cũng nên tìm cho mình một vị trí cố hữu trong thánh đường.

Trên đây là một số lưu ý của mình sau gần một năm đi lễ của người Nhật, tuy nhiên như các bạn cũng biết, nghi thức thánh lễ phản ánh một phần thói quen của dân địa phương nên đây chỉ đơn thuần là kinh nghiệm của mình ở thành phố Minoh nói riêng và tỉnh Osaka nói chung, khi tham gia vào cộng đoàn ở những vùng khác có thể có ít nhiều khác biệt. Khi có cơ hội tìm hiểu mình sẽ giới thiệu thêm với các bạn.

2. Giới thiệu về cộng đoàn công giáo ở Nhật

a. Giáo đoàn công giáo Việt Nam tại Nhật: http://vietchurchjp.net

Trên đây có ghi rõ danh sách các nhà thờ có tổ chức thánh lễ tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam hằng tháng, trong đó ở Vùng Kansai thì lớn nhất có thể kể tới ba nhà thờ Tamatsukuri nhà thờ chánh toà giáo phận Osaka (ga gần nhất Morinomiya), Yao (ga Kawachiyamamoto) và nhà thờ Takatori (ga Takatori ở Kobe).

b. Giới trẻ công giáo miền Tây JP (facebook)

Những thông tin về thánh lễ, ngày lễ kỷ niệm và hoạt động giao lưu mừng giáng sinh, năm mới, lễ Phục sinh…v.v của các bạn trẻ trong cộng đồng sẽ được phổ biến trên trang Facebook này.


c. Ngoài ra còn vô số các nhà thờ công giáo hiện diện ở mỗi thành phố nhỏ ở Nhật (hầu như thành phố nào cũng có trừ các nơi quá xa xôi, hẻo lánh).

Tuy nhiên rất cần phải lưu ý khi các bạn tự tìm nhà thờ trên mạng, trong đó rất nhiều bạn khi thấy chữ 教会 (nghĩa là Nhà thờ) hay キリスト(Thiên Chúa giáo) thì cứ ngẫm rằng đó là nhà thờ công giáo nhưng lại tuyệt nhiên không phải mà đó là nhà thờ Tin Lành hoặc chính thống giáo. Khi tìm nhà thờ công giáo, nhất định phải có 2 điều kiện sau: (1) trong tên nhà thờ phải có chữ カトリック (công giáo) (2) có trưng ảnh tượng Đúc Maria bên ngoài hoặc nhà thờ đó phải chuẩn bịđầy đủ các vật dụng thoải mãn lưu ý thứ nhất ở mục 1.c.

Ken Chan

Người Nhật sinh hoạt ăn uống như thế nào?

Phong cách ăn uống điển hình của người Nhật như thế nào?

Phong cách, thói quen sinh hoạt ăn uống của người Nhật đã bị Âu hóa đi nhiều và trở nên khá đa dạng. Sự xuất hiện của bánh mỳ trong các bữa ăn cho thấy sự thay đổi rõ nét nhất. Hiện nay, bánh mỳ, trứng, sữa, và uống cà phê hay trè được sử dụng cho bữa sáng. Thập kỷ trước đây, các nhân viên công sở thường mang theo hộp cơm trưa tới nơi làm việc nhưng hiện nay thì tại các quán ăn gần nơi công sở bạn có thể tìm thấy đủ các món ăn thay đổi theo khẩu vị từ phương Tây cho tới khẩu vị truyền thống của Nhật. Tại đa số các trường tiểu học, trung học của Nhật đều có phục vụ bữa trưa, được thiết kế với thành phần dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng và tất nhiên là có cả khẩu vị của các món ăn phương Tây lẫn khẩu vị truyền thống của Nhật. Các bữa ăn tối của người Nhật cũng thay đổi với nhiều loại món ăn bao gồm cả các món ăn Nhật, các món ăn Tàu và cả các món ăn của phương Tây. Một bữa ăn truyền thống bao gồm có cơm, một món canh, các món ăn chính bao gồm thịt, cá và rau. Các món ăn phương Tây như là xúc xích (Hamburger) được trẻ em Nhật thích hơn là các món ăn Nhật cho nên các món ăn tối tại nhà thường có xu hướng thay đổi cho phù hợp với khẩu vị của chúng.

Người Nhật có ăn cơm hàng ngày không?

Trên thực tế thì có rất nhiều người Nhật cảm thấy rất khó chịu nếu không ăn cơm ít nhất mỗi ngày một lần, tuy nhiên hiện nay có khá nhiều người dùng bánh mỳ cho bữa sáng và dùng các món mỳ cho bữa trưa.

Nhu cầu về gạo đã giảm đi rất đáng kể, tuy nhiên hầu như không có sự thay đổi đáng kể về nhu cầu lúa mỳ. Thực tế thì bữa ăn của người Nhật ngày càng trở nên phụ thuộc vào thịt, bơ sữa, và hoa quả hơn là vào gạo và lúa mì. Một cuộc điều tra cho thấy so với năm 1960 thì vào năm 1993 nhu cầu của người Nhật về thịt tăng 6 lần, nhu cầu về sữa và các sản phẩm bơ sữa tăng 4 lần, nhu cầu về hoa quả tăng 2 lần.

Người Nhật thích ăn món gì nhất?

Rất khó nói là họ thích món ăn nào nhất vì thói quen ẩm thực của người Nhật rất đa dạng. Tuy nhiên theo sự điều tra của các nhà hàng bình dân thì món ăn xúc xích, món ca ri (curry) với cơm, và mỳ ống (spaghetti) là các món được gọi nhiều nhất. Những món ăn trên cũng được yêu chuộng nhất tại nhà. Trong con mắt của người nước ngoài thì Sushi (cơm nắm cá sống), Tempura (Tôm, rau tẩm bột rồi đem rán), và Sukiyaki là các món ăn truyền thống của người Nhật tuy nhiên họ không ăn các món đó hàng ngày.

Người Nhật rất thích ăn Sushi
Tương, xì dầu (shoyu, soy sauce) được dùng ở Nhật từ bao giờ?

Shoyu (Sho là chữ “tương” nghĩa là nước tương, yu là chữ “du” nghĩa là “dầu”, “dầu ăn”) bắt đầu xuất hiện trong các thực đơn là vào khoảng giữa thời kỳ Muromachi (1333-1568), và vào cuối thế kỷ 16 thì Shoyu trở thành phổ biến đối với người Nhật. Tuy nhiên vào trước thời kỳ Nara thì Hishio (?), được coi là nguồn gốc của Shoyu, đã xuất hiện tại Nhật. Hishio được làm bằng cách cho lên men hỗn hợp gồm gạo, thịt, cá, rau và tảo biển. Shoyu và Miso chính là các biến thể khác nhau của loại nước chấm này. Có rất nhiều loại nước chấm khác nhau như Tamari, Koiguchi, Usuguchi, được chế biến từ Hishio vào thời kỳ Edo và hiện nay vẫn được sử dụng rộng rãi.

Miso (làm từ đậu nành) được bắt đầu sử dụng tại Nhật từ bao giờ?

Miso là loại gia vị làm bằng cách hấp chín đậu nành rồi ủ chung với muối và men cho nó lên men, lưu ở dạng quánh đặc.. Miso, bắt đầu xuất hiện vào thời kỳ Nara (710-794), vào thời kỳ Heian (Bình An) thì đã xuất hiện những cửa hàng bán Miso. Miso được làm từ đậu nành được ninh kỹ và trộn với muối và kouji (Hỗn hợp của gạo lên men, lúa mạch và đậu). Có người nói rằng vào khoảng thế kỷ 15, 16 Miso đã từng được chế biến tại các ngôi đền và được coi là một loại lương thực quan trọng cho quân lính khi có chiến tranh. Cũng giống như Shoyu, Miso trở nên phổ biến đối với người Nhật vào khoảng thời kỳ Muromachi (1333-1568).

Tại sao đậu phụ lại được nói là có lợi cho sức khỏe?

Đậu phụ (Tofu) được làm từ đỗ tương, chứa rất nhiều chất đạm (Protein), can xi, ka li và vitamin B, được coi là có lợi cho sức khỏe bởi vì nó không chứa nhiều chất béo như thịt, sữa, đồng thời hàm lượng ca lo cũng thấp hơn nhiều so với hàm lượng chất đạm mà nó cung cấp. Đậu phụ có nguồn gốc từ Trung Quốc và được truyền tới Nhật Bản vào thời kỳ Nara (710-794). Khi ăn sống thì vì đậu phụ có vị nhạt nên nó thường được dùng kèm với các gia vị khác như là hành lá thái nhỏ và gừng đã nghiền nhỏ, và với một ít nước chấm dưới lên trên. Về cách chế biến thì đậu phụ được nói là có hàng trăm cách chế biến khác nhau.


Thế nào là cách cầm đũa đúng?

Do thói quen dùng các món ăn phương Tây với dao và nĩa nên có rất nhiều thanh niên hiện nay không biết cách cầm đũa sao cho đúng. Để cầm đũa đúng cách thì đầu tiên bạn hãy tách 2 cây đũa ra, sau đó để chúng song song với nhau trên ngón trỏ và dưới ngón cái. Đặt phần giữa của cây đũa trên giữa đầu ngón trỏ và phía trên phần móng ngón giữa, đặt ngón cái đè lên trên cây đũa trên đó. Dùng đầu ngón giữa và phần móng ngón đeo nhẫn giữ phần giữa của cây đũa phía dưới. Tận dụng nguyên tắc của đòn bẩy, bạn chỉ cần dịch chuyển cây đũa trên là có thể gắp thức ăn dễ dàng. Dùng đũa như nĩa hay để xọc thức ăn, mút đầu đũa, hoặc dùng đũa thay tăm bị coi là những thói quen xấu.

Người Nhật thường chế biến cá theo những cách nào?

Osake là loại rượu phổ biến ở Nhật Bản
Nếu như cá còn đủ tươi thì phần lớn người Nhật thích là thái mỏng và ăn sống, đó là món Sashimi của người Nhật. Món này thường được ăn với xì dầu (Soy-sauce) và với cây cải ngựa đã băm nhỏ (Wasabi). Cá sống cũng thường được ăn theo kiểu Sushi, tuy nhiên để chuẩn bị món sushi đòi hỏi những kỹ thuật đặc biệt cho nên người Nhật ít làm món này tại nhà. Cách chế biến phổ biến nhất của người Nhật là nướng cá với một ít muối rắc phía trên. Trừ cá nạc thịt như là cá ngừ Califoni thì tất cả các loại cá khác đều có thể chế biến theo cách này. Teriyaki là cách chế biến cá bằng cách ướp thịt cá đã lóc xương bằng nước xì dầu (Soy-sauce) và vừa phết mỡ vừa nướng. Đôi khi người ta cũng luộc cá với xì dầu (Soy-sauce) hoặc Miso hay bột đậu nành bằng lửa nhỏ. Những loài cá có nhiều mỡ như là cá thu thường được chế biến theo kiểu này. Tôm, cua, mực ống và các loại cá thịt trắng như cá hồi thường được rán kỹ, tức là chế biến theo món Tempura (tôm, các loại rau tẩm bột rồi rán). Các cách chế biến cá theo kiểu phương Tây như là món meunière cũng xuất hiện trong thực đơn của người Nhật tuy nhiên các món ăn truyền thống của Nhật thì vẫn được chế biến theo các cách đã nói ở trên.

Nhà hát kịch khỏa thân Nhật Bản

Cùng văn hóa Nhật Bản tìm hiểu đôi nét về kịch khỏa thân của Nhật Bản